HÀNH TRÌNH XỬ LÝ NƯỚC TỪ NHỮNG NĂM TRƯỚC CÔNG NGUYÊN (P2)

HÀNH TRÌNH XỬ LÝ NƯỚC TỪ NHỮNG NĂM TRƯỚC CÔNG NGUYÊN (P2)

Giai đoạn sau công nguyên

Năm 1627, Francis Bacon tiến hành khử mặn nước biển, cố gắng loại bỏ muối bằng phương pháp lọc cát. Thử nghiệm của ông không hoàn toàn hiệu quả và chính xác nhưng nó mở đường cho nghiên cứu của các nhà khoa học sau này.

xu ly nuoc bang muoi

Những năm 1670, việc phát minh ra kính phóng đại đã giúp các nhà khoa học có thể nhìn thấy các hạt nhỏ trong nước. Đến năm 1676, Leeuwenhoek là người đầu tiên đã quan sát thấy các sinh vật nhỏ tồn tại trong nước. Điều đó chứng minh rằng: nguồn nước là sự pha tạp của rất nhiều thứ mà mắt thường không thể nhìn thấy được, đó là cơ sở thúc đẩy việc xử lý nước trong những giai đoạn tiếp theo.

Đến năm 1700, các bộ lọc nước đầu tiên đã được sản xuất và áp dụng. Chúng được làm bằng len, miếng bọt biển và than củi. Nhưng đến tận hơn 100 năm sau,vào năm 1804, hệ thống xử lý nước đô thị đầu tiên mới được lắp đặt tại Scotland bởi Robert Thom. Hệ thống này ứng dụng mô hình xử lý cát chậm. Mặc dù việc dùng nước là lâu hơn nhưng các nhà phát minh đã đề nghị mọi người sử dụng nước uống an toàn.

Tuy nhiên, đến 1854, một bệnh dịch tả được phát hiện lây lan qua nguồn nước được cung cấp bởi hệ thống lọc nước bởi các máy bơm nước bị ô nhiễm nước thải. Nhà khoa học Anh John Snow đã sử dụng clo để làm sạch nước, mở đường cho lịch sử “khử trùng nước” sau này. Sau đó, các hệ thống lọc nước bằng cát và clo đã được lắp đặt.

Những năm 1890, các nhà khoa học Mỹ đã phát minh và ứng dụng phương pháp lọc cát nhanh thay vì các bộ lọc cát chậm. Điều này không chỉ giúp cho việc sử dụng nước trở nên nhanh chóng hơn mà còn có thể hạn chế các bệnh dịch và thương hàn lây lan qua nguồn nước.

Những năm sau đó, việc khử trùng nước bằng clo đã không còn là phát minh quá vĩ đại nữa khi người ta phát hiện clo bốc hơi nhanh hơn nước rất nhiều và nó có những tác động tiêu cực gây ra các bệnh đường hô hấp. Các nhà khoa học bắt đầu tìm kiếm các chất khử trùng nước thay thế. Năm 1902, sự pha trộn của canxi clorit và sắt clorua đã được sử dụng trong xử lý nước ở Bỉ. Đến năm 1906, ozon lần đầu tiên được áp dụng như một chất khử trùng ở Pháp. Hơn nữa, con người bắt đầu biết đến việc cài đặt các bộ lọc nước gia đình để hạn chế tác động của clo trong nguồn nước được cung cấp bởi hệ thống nước đô thị. Đây là cơ sở hình thành các máy lọc nước gia đình sau này.

Năm 1903, phương pháp lọc nước bằng trao đổi ion được ra đời. Các nhà khoa học sử dụng ion Na+ hoặc một số loại ion khác để khử các ion khoáng độc trong nước. Đây được coi là kỹ thuật để khử muối nước và làm mềm nước.

Bắt đầu từ năm 1914, con người bắt đầu nghĩ đến việc đề ra các tiêu chuẩn nước nước. Cho đến năm 1940, các tiêu chuẩn được áp dụng và kể từ đó, hàng loạt các đạo luật nước uống ra đời ở các nước trên thế giới.

Đến năm 1970, vấn đề sức khỏe trở nên nổi trội bởi các bệnh đường nước gây ra bởi vi sinh vật và các hóa chất độc trong nước như thuốc trừ sâu, bùn công nghiệp, hóa chất hữu cơ,… Các kỹ thuật xử lý nước mới được áp dụng như sục khí, keo tu, hoạt động carbon hấp thụ… Đặc biệt năm 1980, các màng lọc nước thẩm thấu ngược đã được nghiên cứu thành công và áp dụng vào các máy xử lý nước.

Nhìn chung, từ lâu con người đã có ý thức trong việc xử lý nước. Ngày nay, việc xử lý nước trở nên quan trọng hơn bao giờ hết bởi nguồn nước ngày càng ô nhiễm. Khoa học ngày càng phát triển đã cho ra đời nhiều phương pháp xử lý nước khác nhau. Chúng được áp dụng trong các hệ thống xử lý nước đô thị, hệ thống tổng lọc nước quy mô nhỏ hơn hay trong các loại máy xử lý nước gia đình. Tất cả các thành công trong xử lý nước hiện nay đều được nghiên cứu dựa trên những cơ sở của cả một quá trình trong hành trình xử lý nước từ những năm trước công nguyên.

Nguồn : greenhouses.com.vn

|máy lọc nước|máy lọc nước nano|máy lọc nước ro|máy lọc nước  gia đình|

Share this post

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *